Hệ thống thông tin di động 2G

Vào năm 1983, Châu âu bắt đầu phát triển GSM với tên ban đầu của nó là Nhóm Đặc biệt về di động (Group of  Special Mobile) sau được đổi thành Hệ thống di động toàn cầu (Global System for Mobile). GSM sử dụng kỹ thuật đa truy nhập theo thời gian số được phát triển đầu tiên ở Đức năm 1991. Nó là hệ thống di động tổ ong số đầu tiên trên thế giới.

Hệ thống di động 2G đã cải tiến hệ thống phần cứng, được chia làm các thành phần chức năng bao gồm trạm di động(Mobile Station), phân hệ trạm cơ sở (Base Station Subsystem), phân hệ chuyển mạch và mạng (Network and Switching Subsystem) và phân hệ vận hành hoạt động và bảo dưỡng (Operation Maintenancy Center) như hình vẽ bên dưới. Nói chung nó là hệ thống chuyển mạch kênh với chủ yếu cung cấp dịch vụ thoại.

 

Hệ thống di động 2G sử dụng các kỹ thuật điều chế số thay cho điều chế tương tự. Cải tiến dung năng hệ thống như mã hóa tiếng nói số, sử dụng kỹ thuật ghép kênh để nhiều người dùng có thể sử dụng cùng tần số thông qua kỹ thuật phân chia theo thời gian hoặc theo mã. Sử dụng các kỹ thuật để tăng hiệu năng của hệ thống như sử dụng lại tần số, các bộ cân bằng, mã hóa.

Bên cạnh các cải tiến cung cấp chất lượng thoại, dung năng và bảo mật thì hệ thống di động 2G còn thêm các ứng dụng mới như dịch vụ tin nhắn SMS (Short Messaging Service) được phát triển đầu tiên ở Châu âu vào năm 1991, các ứng dụng dữ liệu với tốc độ rất thấp. Các đặc điểm kỹ thuật của hệ thống di động 2G theo bảng sau:

Hệ thống thông tin di động 2.5G

 

  • GPRS: hệ thống GSM không hỗ trợ cho các lưu lượng dữ liệu. GPRS là giải pháp cung cấp các dịch vụ trên cơ sở gói với tốc độ cao. GPRS sử dụng cùng một sóng mang với băng thông 200Khz và 8 khe thời gian như GSM. Tuy nhiên, Trong GPRS có thể kết hợp các khe trong số 8 khe thời gian để truyền dữ liệu, nên số gói dữ liệu truyền đi trong mỗi khung truyền tăng lên. Kết hợp việc cấp phát tài nguyên động nên hiệu quả sử dụng băng tần tăng lên đáng kể. Tuy nhiên trong thực tế , do có các dữ liệu được thêm vào cho việc hiệu chỉnh lổi, và số lượng người dùng tại cùng một thời điểm,và phụ thuộc việc chọn lựa lượt đồ mã hoá CS-1 đến CS-4 mà ta thu được lưu lượng dữ liệu khác nhau. Thực tế tốc độ dữ liệu đạt được khoảng 40kbps nếu ta sử dụng ba khe thời gian với tốc độ mỗi khe là 13.4kbps hoặc 53kbps nếu sử dụng bốn khe thời gian. Vẫn lớn hơn nhiều so với 9.6kbps của GSM.

  • iDGE: là kỹ thuật truy nhập vô tuyến ghép kênh phân chia theo thời gian mới, nó vẫn sử dụng các tần số sóng mang cũng như cấu trúc các khe thời gian của hệ thống GSM. Mô hình kiến trúc của EDGE cũng tương đồng với GPRS, chỉ khác là nó sử dụng kỹ thuật điều chế 8 PSK với tám khe thời gian cho việc truyền dữ liệu với tốc độ tối đa là 384kbps, nên mỗi khe thời gian có tốc độ là 48kbps. Khi người dùng đang ở chế độ GSM, nếu dùng tới các dịch vụ dữ liệu thì nó sẽ tự động chuyển qua chế độ EDGE.

  • iDEN (Intergrated Digital Enhanced Network) được phát triển bởi Motorola hoạt động trên băng tần vô tuyến di động đặc biệt sau đó được chuyển sang Nortel. Bên cạnh các chức năng thông thường như chuyển mạch kênh thoại và dữ liệu thì nó được thêm vào một vài chức năng mới như Push-to-Talk (PTT), Dispatch calls và dữ liệu dịch vụ gói.

  • PHS (Personal Handy Phone System) là hệ thống được phát triển ở Nhật bản. PHS là hệ thống truyền thông không dây sử dụng phương thức song công phân chia theo thời gian TDD hỗ trợ cho các dịch vụ thông tin cá nhân.

  • IS-95B được phát triển từ IS-95A, sự khác nhau cơ bản giữa IS-95A và IS-95B chính là nâng cấp phần mềm ở IS-95B. Thật ra IS-95B là một hệ thống 2G hoặc 2.5G nhưng chưa được chuẩn hóa, nhưng nó là nền tảng cho sự phát triển của cdma2000 1X, một tiêu chuẩn 3G được chứng nhận bởi ITU.

 

BOBYTECH Company

(Ghi rõ lại nguồn khi sao chép nội dung trên)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *